Bỏ qua đến nội dung

Cung cấp cà phê sỉ cho quán & doanh nghiệp · Nhận báo giá

22 tháng 10, 2026

Giống loài, cấu tạo trái và cây phả hệ cà phê

Arabica, Robusta, Typica, Bourbon, Catimor… những cái tên trên bao bì kể câu chuyện về nguồn gốc của hạt cà phê. Đọc được chúng, bạn đoán được phần nào hương vị trước khi pha.

Adiuvat Coffee Roasters QuinhonChia sẻ Facebook

Cà phê có ba loài thương mại chính: Arabica, Robusta và Liberica. Khi uống cà phê đặc sản (specialty), gần như bạn luôn đang uống Arabica.

Những chữ như Caturra, Catimor, Geisha trên bao bì là tên giống (variety), tức các nhánh nhỏ nằm bên trong một loài (species). Có thể hình dung thế này: họ Rubiaceae (họ Cà phê) → chi Coffea → loài Arabica, Canephora, Liberica → giống Typica, Bourbon, Caturra…

Chi Coffea có hơn 60 loài, nhưng chỉ bốn loài có giá trị thương mại: Arabica, Canephora, Liberica và Excelsa. Robusta thật ra là một giống của loài Coffea canephora, nhưng phổ biến đến mức tên này được dùng để gọi cả loài.

ArabicaRobustaLiberica
Tên khoa họcCoffea arabicaCoffea canephoraCoffea liberica
Vùng trồng chínhBrazil, Trung Mỹ, Châu PhiViệt Nam, Brazil, Indonesia, Châu PhiMalaysia, Philippines, Liberia
TráiVừa, bóng, mọc thưa thành chùm nhỏNhỏ, mọc dày thành chuỗi dọc cànhTo, mọc thành cụm lớn
Thị phầnKhoảng 60–64%Khoảng 35–40%Dưới 2%
Caffeine0,9–1,7%1,7–4,0%Thấp, gần Arabica
Hương vị chungThơm, chua thanh, êmĐậm, đắng, body dàyGỗ, khói, trái cây chín (giống mít)
Robusta ở Duy Tân Farm, Cư M'gar: trái nhỏ, mọc dày thành chuỗi dọc cành. Ảnh: Adiuvat
Robusta ở Duy Tân Farm, Cư M'gar: trái nhỏ, mọc dày thành chuỗi dọc cành. Ảnh: Adiuvat

Ở Việt Nam, Liberica (cà phê mít) và Excelsa (cà phê sẻ) vẫn còn được trồng rải rác, thường làm hàng rào chắn gió hoặc trộn vào blend.

Hầu hết giống Arabica ngày nay đều xuất phát từ hai giống gốc Typica và Bourbon. Nắm được hai giống này là hiểu được phần lớn các cái tên trên bao bì.

GiốngNguồn gốcĐặc điểm câyHương vị thường gặp
TypicaMột trong những giống lâu đời nhất, từ Yemen sang Java rồi ra khắp thế giớiLá to, dài, ngọn non màu đồng; hạt dài; năng suất thấpSạch, ngọt, thanh lịch
BourbonĐột biến tự nhiên trên đảo Bourbon (nay là Réunion)Ngọn non xanh, trái tròn hơn; năng suất cao hơn TypicaNgọt, phức tạp, body tròn
CaturraĐột biến lùn của Bourbon, phát hiện ở BrazilCây thấp, đốt ngắn, trồng dày được; năng suất caoChua sáng, body nhẹ
Mundo NovoLai tự nhiên giữa Typica (Sumatra) và Bourbon, BrazilCây cao, khỏe, năng suất caoNgọt, sô cô la, ít chua
CatuaiLai giữa Mundo Novo và Caturra, BrazilCây thấp, trái ít rụng khi gặp gióCân bằng, dễ uống
CatimorLai giữa Caturra và Timor Hybrid (có gen Robusta)Kháng bệnh gỉ sắt tốt, năng suất cao; phổ biến ở Việt Nam và LàoĐậm, hạt rang; hương vị tốt khi được hái chín và sơ chế kỹ
Geisha (Gesha)Vùng Gesha, Ethiopia; nổi tiếng nhờ nông trại La Esmeralda (Panama)Cây cao, lá dài, năng suất thấpHoa nhài, cam bergamot, vị như trà
PacamaraLai giữa Pacas (từ Bourbon) và Maragogype (từ Typica), El SalvadorHạt rất toĐa dạng, trái cây, thảo mộc
SL28 / SL34Phòng thí nghiệm Scott Labs, KenyaChịu hạn tốt (SL28)Quả lý chua, cà chua, chua sáng
Typica ở Thung Lũng Nắng, Đạ Sar. Ảnh: Adiuvat
Typica ở Thung Lũng Nắng, Đạ Sar. Ảnh: Adiuvat
Yellow Bourbon chín vàng ở Đồi Mây, Đạ Sar. Ảnh: Adiuvat
Yellow Bourbon chín vàng ở Đồi Mây, Đạ Sar. Ảnh: Adiuvat

Hai cây trong ảnh là Typica và Yellow Bourbon (dòng quả vàng của Bourbon) ở Đạ Sar, Lâm Đồng. Bạn có thể đọc thêm về những khu vườn này trong bài Đạ Sar – ngọn đồi trong mây.

Mẹo ghi nhớ: giống tự nhiên hoặc gần gốc (Typica, Bourbon, Geisha) thường cho hương vị tốt nhưng năng suất thấp. Giống lai có gen Robusta (Catimor, Sarchimor) kháng bệnh tốt, năng suất cao, và cần được chăm sóc, hái chín và sơ chế kỹ để cho hương vị tốt.

Cây phả hệ cho thấy giống nào sinh ra từ giống nào. Khi biết một giống là "cháu" của Typica hay Bourbon, bạn có thể đoán trước phần nào đặc tính và hương vị của nó.

Cây phả hệ Arabica rút gọn, 13 giống. Đồ hoạ: Adiuvat
Cây phả hệ Arabica rút gọn, 13 giống. Đồ hoạ: Adiuvat

Một giống mới ra đời theo ba cách: đột biến tự nhiên (Caturra từ Bourbon, Maragogype từ Typica), lai tự nhiên ngoài vườn (Mundo Novo, Timor Hybrid), và lai tạo có chủ đích để tăng năng suất hoặc kháng bệnh (Catuai, Pacamara, Catimor).

Trái cà phê (coffee cherry) có sáu lớp, từ ngoài vào trong. Nhân cà phê mà chúng ta rang thực chất là hạt giống nằm sâu nhất bên trong.

Cấu tạo trái cà phê, từ vỏ ngoài vào nhân. Đồ hoạ: Adiuvat
Cấu tạo trái cà phê, từ vỏ ngoài vào nhân. Đồ hoạ: Adiuvat
  1. Vỏ trái (skin, exocarp): lớp vỏ mỏng ngoài cùng, chuyển từ xanh sang đỏ hoặc vàng khi chín.
  2. Thịt quả (pulp, mesocarp): phần thịt mỏng, ngọt, chứa nhiều đường.
  3. Lớp chất nhầy (mucilage): lớp nhớt bám quanh vỏ thóc, giàu đường và pectin. Các cách sơ chế Washed, Honey và Natural khác nhau chính ở chỗ giữ lại lớp này nhiều hay ít.
  4. Vỏ thóc (parchment, endocarp): lớp vỏ cứng, giòn, bảo vệ nhân. Cà phê còn lớp vỏ này gọi là cà phê thóc.
  5. Vỏ lụa (silverskin): màng mỏng ánh bạc ôm sát nhân. Khi rang, lớp này bong ra thành trấu (chaff).
  6. Nhân cà phê (bean, endosperm): phần được giữ lại để rang.

Mỗi trái thường có hai nhân úp mặt phẳng vào nhau. Khoảng 5–10% trái chỉ có một nhân tròn, gọi là peaberry, ở Việt Nam quen gọi là cà phê culi.

Xem các loại cà phê →

Nguồn: tài liệu nội bộ Adiuvat Coffee 101.

Giống loài, cấu tạo trái và cây phả hệ cà phê | Bản Nguyên Coffee